|
 |
Sự kiện ra đời của Tu Viện Kim Sơn
có liên hệ mật thiết của một
đạo Phật Việt Nam, một nền văn
hóa có truyền thống lâu đời,
sáng đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đạo Phật ấy, nền văn hóa ấy
đang có cơ duyên đi vào xã hội
tây phương.
Đạo Phật đã đến với các
dân tộc tây phương không sớm như
các dân tộc Á đông, song bản
chất từ bi, trí tuệ của đạo
Phật là nguồn cảm hứng to lớn đối
với người tây phương trong hơn thế
kỷ qua. Bằng vào nguồn cảm hứng đặc
biệt nầy, người tây phương đã
tiếp nhận đạo Phật không chỉ
trên phương diện tri thức mà còn
trên phương diện hành trì và
chứng nghiệm. Đây là lý do chính
yếu khiến người tây phương cảm
mến đạo Phật, để tâm đến
đạo Phật, cùng góp sức xây
dựng và làm cho nguồn giáo pháp
vi diệu tuôn chảy vào lòng sinh hoạt
xã hội tây phương. Đạo Phật
Việt Nam đã bằng vào đó, bằng
vào nhân duyên và sứ mệnh chuyển
hóa khổ đau con người thời đại
mà truyền bá, phát triển trên vùng
đất mới nầy. Tu Viện Kim Sơn cũng
bằng vào đó, bằng vào tinh thần
tu học, phụng đạo của người phật
tử Việt Nam mà kiến lập, đóng
góp phần vụ khiêm tốn của mình
vào công cuộc hoằng dương chánh
pháp tại Hoa Kỳ và tây phương.
Tu Viện Kim Sơn đang có một tăng thân
xuất gia khá vững chãi. Trên 20 vị
đã được thọ giới Tỳ Kheo
và Tỳ Kheo Ni qua Đại Giới Đàn
Tăng Hội được tổ chức trong trung
tuần tháng 08 năm 1998 tại Tu Viện. Sau
16 năm đào tạo và nuôi dưỡng
nhân sự, nay Tu Viện Kim Sơn đã có
một số tăng, ni sinh có khả năng, tâm
huyết, thiện chí trong phần vụ điều
hành Phật sự, hướng dẫn các
khóa tu, đáp ứng nhu cầu tinh thần
cho quần chúng Phật tử và các thế
hệ tương lai.
Sự ra đời của Tu Viện Kim Sơn được
khởi đi, nuôi dưỡng từ khi làn
sóng di dân tìm tự do của người
Việt đến Hoa Kỳ năm 1975. Song thao thức
kiến lập Tu Viện Kim Sơn đợi đến
bảy năm sau mới đủ nhân duyên
hình thành. Phòng xá cư trú cho
người về tu học tại Tu Viện đã
được xây dựng. Ngôi nhà Đại
Bi rộng hai chục ngàn bộ vuông đã
mở cửa sinh hoạt đầu năm 2001. Tu Viện
Kim Sơn đã trở thành mái ấm,
mái nhà chung, soi sáng tâm linh của
mọi giới phật tử.
Đạo Phật Việt Nam có mặt tại
Hoa Kỳ và các quốc gia tây phương
là một sự kiện đáng mừng. Điều
đáng mừng hơn nữa là các trung
tâm tu học, các cơ sở chùa viện
mỗi ngày được thành lập, xây
dựng rộng lớn khắp các quốc gia trên
thế giới. Điểm nổi bật và đáng
khích lệ lớn nhất là các bậc
thầy đi trước đã quan tâm, hết
lòng trong việc nuôi dưỡng, giáo
huấn các lớp tăng, ni trẻ để
phụng sự đạo Phật hôm nay và
ngày mai.
Tu Viện Kim Sơn đã có chương trình
tu học cho các lớp xuất gia trong mười
năm qua. Hằng năm tại Tu Viện có một
tháng tu học dành cho tuổi trẻ và
các giới phật tử trở về tập
sống hạnh của người xuất gia trong
truyền thống Phật Giáo nguyên thủy.
Thời gian khóa tu bắt đầu từ ngày
15 tháng 07 đến ngày 15 tháng 08 dương
lịch. Trong năm, các phật tử, các
thân hữu cũng có thể trở về
tu viện để học phật pháp và
tu tập thiền quán trong các khóa tu ngắn
hạn từ ba cho đến mười ngày.
Tu Viện đã xây hoàn tất ngôi
nhà Đại Bi để đón người
về tham dự các khóa tu. Ngôi nhà
có 32 phòng ở và sinh hoạt, có
trên 50 phòng vệ sinh và nhà tắm.
Hơn 300 chỗ đậu xe. Hồ Thanh Lương
chứa hai triệu rưỡi galons nước cũng
đã được thực hiện. Hiện
nay Tu Viện đang khởi công xây Thiền
Đường, Quán Âm Pháp Đường
và Ngôi Bảo Điện. Cơ sở nầy
rộng trên 24 ngàn bộ vuông, đủ
chỗ cho 1250 thiền sinh tọa thiền trong các
khóa tu và có đủ tiện nghi cho mọi
giới Phật tử đến nghe pháp trong các
sinh hoạt tu học, lễ hội.
Mục đích thành lập Tu Viện Kim Sơn
là để hướng dẫn các giới
Phật tử hướng về Tam Bảo và
tu tập theo Phật Pháp. Một người biết
tu tập theo phật pháp không chỉ đem
lại niềm vui, hạnh phúc cho bản thân,
gia đình và đoàn thể, mà còn
là một yếu tố rất quan trọng trong
việc chuyển hóa khổ đau của xã
hội, xây dựng cõi Tịnh Độ ngay
ở nhân gian. Phật Giáo hay đạo Phật
tồn tại, có ý nghĩa đích thực,
thân thiết với con người và xã
hội là nhờ vào yếu tố tu học,
thực hành phật pháp của mọi giới
Tăng, ni và Phật tử.
Trong mười bảy năm qua, sau hai năm Tu Viện
Kim Sơn được thành lập, các khóa
tu học Phật pháp, các pháp hội
giảng kinh, các mùa An Cư Kiết Hạ,
các khóa thực tập thiền quán và
sinh hoạt giáo dục tuổi trẻ, được
tổ chức liên tục hằng năm. Nhờ
tiếp nhận được niềm vui và hạnh
phúc cao thượng nơi môi trường
thực tập Phật pháp mà người
về tu học tại Tu Viện mỗi ngày mỗi
đông. Các Pháp Hội sinh hoạt văn
hóa, giáo dục, văn mỹ nghệ và
ngày Quán Niệm soi sáng đời sống,
có nhiều ngàn người tham dự. Tu Viện
Kim Sơn hiện nay là một đạo tràng
có tạm đủ tiện nghi, với một
khung trời yên tĩnh, tươi mát, saün
sàng đón người về tham dự các
khóa tu, tắm gội không khí yêu thương
của Phật pháp, tình người, tình
quê hương.
Đây
Kim Sơn ngày mới
Giữa khung trời thanh yên
Đại hồng khua rã mộng
Cửa chân không bước vào.
Nội dung tập sách nhỏ nầy, chúng
con xin cung kính giới thiệu đến chư
tôn đức tăng, ni, thiện hữu và
chư phật tử về mục đích và
vài nét sinh hoạt chính yếu của
Tu Viện Kim Sơn. Phần đậm nét nhất
của tập sách này vẫn là niềm
ước ao và mong mỏi được học
hỏi kinh nghiệm tu tập, điều hành
tổ chức, truyền bá chánh pháp,
giáo dưỡng tăng, ni và Phật tử
từ nơi các bậc thầy và các
bậc thiện hữu.
Chúng con xin thành kính đảnh lễ
Tam Bảo, các bậc sư trưởng, giáo
thọ đã hết lòng thương yêu,
nuôi dưỡng tâm linh, trí tuệ và
hạnh nguyện vào đời của chúng
con.
Thành kính xưng tán, tri ân mọi
giới phật tử, thân hữu đầy thiện
tâm, nhiệt huyết đã bền bỉ và
tích cực phụng sự chánh pháp, góp
bàn tay trong các công trình kiến lập
tu viện, tự viện, các phật học đường
và các trung tâm tu học, làm cho hoa
trái của đạo từ bi được
rộ nở trường cửu ở muôn thời
và muôn xứ.
Kỉnh lễ,
Thích
Tịnh Từ
Viện Trưởng Tu Viện Kim Sơn
Tu Viện Kim Sơn
là một trong những Trung Tâm Hướng
Dẫn Tu Học Thiền Quán của Cộng Đồng
Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Nơi
dung hợp phương pháp tu học theo truyền
thống Thiền và Tịnh Độ.
Phương pháp hành trì tại Tu Viện
là căn cứ trong kinh điển nguyên thủy
và phát triển để canh tân một
vài nguyên tắc thực tập, thích nghi
với hoàn cảnh xã hội và con người
trong thời đại. Đó là tinh thần
sáng tạo, làm rõ cái nhìn và
phương pháp hành trì cụ thể,
đem lại lợi ích thiết thực trong đời
sống mà không mất tính chất căn
bản của Phật pháp.
Sau năm 1975, hình thức tu học và sinh
hoạt của Phật Giáo Việt Nam được
mang đến áp dụng tại xã hội
tây phương vào buổi ban đầu, được
ví như những hạt giống của một
loài hoa đem trồng thử nghiệm trên
vùng đất mới. Một chút trầm
tĩnh, chúng ta thấy một cách sâu
sắc về những khó khăn căn bản
trong việc kiến lập chùa viện, đào
tạo nhân sự và truyền bá chánh
pháp trên xứ người. Là những
tăng ni, phật tử thiết tha hoằng truyền
chánh pháp, luôn luôn phát nguyện
và tích cực trong việc dấn thân
phụng sự, làm mới con người và
cuộc sống. Lắng nghe, học hỏi, chia xẻ
kinh nghiệm, xây dựng niềm tin, giáo dục
con người đi về phía yêu thương
và hiểu biết, đó là việc làm
cấp thiết của người phật tử trong
mọi hoàn cảnh và thời đại.
Quán chiếu và dấn thân mà không
trách móc, đổ lỗi cho hoàn cảnh
hay bất cứ đối tượng nào, đó
là thái độ hoằng pháp và
phục vụ đạo chân chiùnh nhất
của người phật tử trong mọi thời.
Trong cái nhìn này, thiền sư Thích
Nhất Hạnh là người có công
trình sáng tạo những phương pháp
tu học thực tế, thích nghi với cuộc
sống, đem hạnh phúc, lợi lạc cho nhiều
người. Thiền sư Thích Nhất Hạnh
là vị thầy Việt Nam thứ hai sau cố
thiền sư Thích Thiên Ân, người
có công mang hạt giống Thiền Tông
Nguyên Thủy và Thiền Tông Việt Nam
đi vào thế giới tây phương. Thiền
sư Thích Nhất Hạnh là bậc thầy
của nhiều thế hệ tăng, ni và phật
tử đông phương và tây phương
của cuối thế kỷ hai mươi, đầu
thế kỷ hai mươi mốt. Ý thức,
trí tuệ, phương pháp và kinh nghiệm
rực sáng của ông có đủ hiệu
lực để làm rạng rỡ cây thiền
tông vươn cao trên nền trời đông
phương và tây phương trong các
thế kỷ nối tiếp.
Phương pháp hành trì và hướng
dẫn tu tập thiền quán tại Tu Viện
Kim Sơn đã được trực tiếp
thừa hưởng ân đức giáo hóa
của các vị tôn sư Việt Nam và
thế giới, của thiền sư Thích Nhất
Hạnh, cùng sự thể nghiệm và phổ
hóa của thiền sư Thích Tịnh Từ,
viện trưởng Tu Viện Kim Sơn.
Mục Đích
của Tu Viện Kim Sơn:
Nung nấu ý
chí tu học, giáo dục Tăng, Ni và
Phật tử.
Tiếp nhận và hướng dẫn đời
sống đạo cho người sơ phát tâm
xuất gia.
Dạy và hướng dẫn các thế hệ
tuổi trẻ sống lương thiện, đạo
đức, hiếu kính cha mẹ, tổ tiên,
gìn giữ gốc rễ văn hóa truyền
thống.
Khuyến tấn các giới Phật tử tại
gia tin sâu Tam Bảo, học hiểu và ứng
dụng Phật pháp vào đời sống
để hóa giải khổ đau cá nhân,
gia đình và cộng đồng.
Đào tạo, cung cấp nhân sự hoằng
pháp cho các cộng đồng Phật Giáo
hôm nay và trong các thế hệ tương
lai.
Tổ chức truyền thống An Cư Kiết Hạ
cho Tăng, Ni và mở các khóa tu định
kỳ cho mọi giới thân hữu và Phật
tử.
Phát triển, duy trì nền văn hóa
Phật Giáo và văn hóa Việt Nam trên
đất mới.
Trợ duyên cho người muốn tu học Phật
pháp, thực tập thiền định, phát
huy tuệ giác và an lạc.
Truyền bá Phật Pháp vào dân chúng
và các sinh hoạt xã hội tây phương.
Hướng
đi của Tu Viện Kim Sơn là hướng
đi chuyển luân Phật pháp trong lòng
nhân gian. Hướng đi ấy đức Phật,
các bậc thầy tổ đã vạch, chúng
ta là những người thừa tiếp ánh
đuốc của tiền nhân và của các
thế hệ đi trước mà thôi.

Đại chúng Tu Viện Kim Sơn, mỗi ngày
có ba buổi thiền tập: buổi sáng
ngồi thiền, niệm kinh lạy Phật và
tập khí công. Buổi trưa ăn cơm
quá đường theo lối khất thực
truyền thống của giáo đoàn. Buổi
tối ngồi thiền, lạy Phật và niệm
kinh vào lúc 7 giờ 30 đến 9 giờ 30.
Mười giờ đêm là giờ chỉ
tịnh. Giờ chỉ tịnh là giờ ngồi
thiền, quán niệm riêng của mỗi người
trước khi nằm ngủ.
Sau giờ ngồi thiền và công phu buổi
sáng, 7 giờ 30 là giờ tập khí công.
Nhờ phương pháp luyện thân này,
mỗi người trong đại chúng có
thêm sức khỏe, giúp cho việc tu tập,
hành đạo càng thêm tươi vui,
tinh tấn.
Những bữa ăn của đại chúng tại
Tu Viện rất đơn giản, song rất chú
trọng về phẩm chất thức ăn và
sự dinh dưỡng. Sau giờ ăn sáng, ngoài
lao tác, mỗi người tham gia các lớp
học giáo lý, nghe pháp thoại, đi
thiền hành, hướng dẫn khóa tu và
chăm sóc đời sống tâm linh cho người
đến Tu Viện.
Chương trình tu học căn bản cho giới
xuất gia tại Tu Viện là chín năm.
Năm đầu học những phép tắc, giới
luật và quy củ lập hạnh xuất gia.
Năm thứ hai được tiếp nhận giới
luật, pháp y hành sự của người
nhập đạo, cùng học những kinh căn
bản nam truyền, yếu chỉ tham thiền và
nuôi dưỡng ý thức phụng sự.
Năm thứ ba tuyển trạch ý chí, giới
đức, công phu tu tập, hạnh nguyện và
học các kinh điển căn bản bắc
truyền. Năm thứ tư nếu trên hai mươi
tuổi trở lên được truyền trao
y bát và được thọ giới lớn,
chính thức gia nhập giáo đoàn tăng,
ni. Sau khi đã thọ giới lớn, các
vị tân tỳ khưu, tỳ khưu ni, có
thể tùy nguyện tham học thêm các
chương trình văn hóa, sinh ngữ để
bổ túc kiến thức, kinh nghiệm trong vai
trò giáo dục và hoằng pháp. Năm
thứ năm có thể đi tập sự hoằng
pháp, tổ chức các khóa tu, tham cứu
thêm các hệ tư tưởng, học phái,
tam tạng kinh điển nguyên thủy và
kinh điển phát triển trong các viện
đại học, cao học Phật giáo. Sau chín
năm tu học, phụng sự tại Tu Viện Kim
Sơn, các vị có căn bản về giới
hạnh, tuệ giác có thể đi tham vấn
tu tập thêm với các bậc minh sư hoặc
bổ xứ làm phật sự ở phương
xa theo sở nguyện. Hằng năm tại Tu Viện
có tổ chức các khóa tu thiền định
và các khóa tu xuất gia gieo duyên cho
các giới tuổi trẻ. Đặc biệt,
khóa tu mùa hè hằng năm được
khai giảng từ ngày 15 tháng 07 đến
15 tháng 08 tây lịch dành cho mọi giới
phật tử và thân hữu tập sống
đời phụng sự.
Mỗi Thứ Bảy và Chủ Nhật lúc
10 giờ 30 sáng có các buổi giảng
giáo pháp, hướng dẫn ngồi thiền,
thiền hành, ăn cơm yên lặng, thảo
luận giáo lý, soi sáng những khó
khăn trong đời sống cá nhân, gia đình,
xã hội và chia xẻ những kinh nghiệm
tu học đến với đại chúng.
Pháp môn thực tập tại Tu Viện Kim
Sơn được soi sáng qua quyển Cẩm
Nang Hướng Dẫn Tu Học do thầy viện
trưởng biên soạn. Tinh thần và nội
dung cẩm nang là nguyên tắc cơ bản
không chỉ để hướng dẫn cho đại
chúng thường trú tại Tu Viện Kim
Sơn mà đây cũng là chìa khóa
khai mở nội tâm, tưới tẩm hạnh
phúc cho mọi giới tăng, ni sinh, phật tử
trong thời đại và môi trường
xã hội mới.
Mỗi năm, tại Tu Viện có tổ chức
từ 10 đến 12 khóa tu tập thiền quán
ngắn hạn cho tuổi trẻ, người lớn,
các thân hữu người Việt và
người ngoại quốc. Thời gian mỗi khóa
tu kéo dài từ ba đến mười ngày.
Ngôn ngữ hướng dẫn khóa tu dùng
cả hai thứ tiếng Việt và Mỹ. Nội
dung tu tập trong các khóa tu gồm có
: hướng dẫn ngồi thiền, đi thiền
hành ngoài trời, nghe pháp thoại, thảo
luận các vấn đề liên quan đời
sống, tham vấn, ăn cơm chánh niệm,
tụng giới, tổ chức lễ quy y, nghi lễ
thiền trà và sinh hoạt giải trí.
Mục đích các khóa tu là trau dồi
tinh thần, tưới tẩm đời sống nội
tâm, phát triển tình thương yêu
và sự hiểu biết chơn chánh. Bằng
vào nguyên tắc và phương pháp
thực tập trong khóa tu mà những thiền
sinh tham dự thâu thập, gặt hái được
rất nhiều kinh nghiệm, đem lại nhiều
hạnh phúc và niềm vui; chuyển hóa
và rũ bỏ những tập khí nóng
giận, lo âu, phiền muộn; hàn gắn
được những đổ vỡ đời
sống hôn nhân, gia đình. Bằng vào
sự học hiểu Phật pháp và thực
tập thiền định theo Phật pháp mà
năng lượng từ bi, trí tuệ và
hạnh phúc có mặt trong đời sống.
Tu tập pháp thiền tịnh
Lợi lạc khắp quần sinh
Chuyển hóa luân hồi khổ
Thắp sáng nẻo u minh.

Trở về đầu trang

1. PHƯƠNG PHÁP NGỔI THIỀN
a. Ý nghĩa ngồi thiền:
Ngồi thiền
là một phương pháp giúp ta gạn
lọc tư tưởng, tập trung tâm ý
về một đối tượng. Ngồi thiền
dẫn đến an tâm và phát huy tuệ
giác. Vì vậy, ngồi thiền không phải
là một giấc mơ trầm lặng mà
là một phương pháp luyện tâm
cho thanh tịnh và là một hoạt động
tích cực khai thông năng lượng yêu
thương mầu nhiệm đang ngủ chìm
trong ta.
Cái tâm ta thật là quan trọng, nó
là trung tâm của sự sống, của vũ
trụ và chứa nhóm tất cả muôn
pháp. Nó là hào lũy ẩn náu
của mọi tật xấu, nhưng cũng là
mảnh đất phì nhiêu nẩy sanh mầm
giống giác ngộ. Chính tâm tạo nên
hạnh phúc và cũng chính tâm tạo
nên khổ đau. Ngồi thiền là nhắm
tới sự chuyển hóa, kiểm soát và
phát triển sự tốt đẹp của cái
tâm ấy.
Ý nghĩa trong khi thực tập ngồi thiền
có hai phần. Thứ nhất là gom tâm
lại một mối, xả bỏ tạp niệm
và đưa tâm trở về trạng thái
vắng lặng, an tịnh. Đây gọi là
Chỉ, là ngưng mọi suy tư, tiếp xúc
và phân biệt. Phần thứ hai là dùng
năng lực vắng lặng của tâm để
theo dõi sự vật và thấy đúng
mọi biến tướng của sự vật, tức
là nhìn sự vật dưới ánh sáng
của ba đặc tính: Vô thường, khổ
và vô ngã.
Gom tâm là Chỉ hay gọi Samatha. Theo dõi
tâm và thấy đúng mặt hiện tượng
của sự vật là Quán hay gọi là
Vipassana. Chỉ là đình chỉ mọi tạp
niệm, quán là quán sát sự vật
đúng như thật tướng của nó.
Chỉ có tu học theo phương pháp luyện
tâm, ta mới rũ bỏ được mọi
khổ não và đạt được trạng
thái an lạc đích thực.
Chữ Quán hay Thiền quán là nguyên
tắc đưa tới sự tỉnh thức, là
theo dõi, thấy biết thực tại và
sống ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ
có giây phút hiện tại mới là
giây phút đích thực của sự
sống. Mọi đối tượng bên ngoài
như màu sắc, âm thanh, hương vị,
chạm xúc... đến với các giác
quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý
đều được ghi nhận tường tận.
Tất cả những đối tượng ấy
là những đề mục thiền quán
và làm nẩy nở sự tỉnh thức.
Nhờ tỉnh thức thường trực mà
ta thấy được thực tướng của
sự vật nên không mê chấp, đắm
luyến. Bản chất của con người và
vạn vật được cấu tạo từ
năm uẩn giả hợp, chúng vốn không
có cái thật ngã tồn tại và
bất biến. Càng định tâm, càng
có trí tuệ ta sẽ thấy con người,
vũ trụ chỉ là những mối nhân
duyên liên hệ và tùy thuộc để
sanh thành hay hoại diệt. Nhờ đó
mà ta thấy được sự kết hợp
của ngũ uẩn, tức là các hiện
tượng bao hàm thân tâm như hình
sắc, cảm giác, suy lường, tâm tư
và nhận thức vốn không thật. Nhờ
vậy mà ta được an ổn và xa lìa
mọi vướng mắc, vọng tưởng; chứng
đắc được chân lý mầu nhiệm,
rũ bỏ phiền não và các tâm
lý xấu ác.
b. Cách thức ngồi thiền:
Khi thực hành
thiền ta phải chọn đề mục để
tập trung tâm ý. Hơi thở thường
được chọn làm đề mục chính.
Ta nên theo dõi hơi thở và ghi nhận
sự ra vào của hơi thở.
Ta có thể căn cứ vào bài thi kệ
điều hơi thở sau đây để thực
tập phép thiền quán trong lúc mới
bắt đầu:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời.
Thở vào,
thầm niệm tĩnh lặng, thở ra thầm niệm
mỉm cười và thật sự mỉm cười.
Rồi thở vào, niệm hiện tại, và
thở ra niệm tuyệt vời, và thật sự
thấy thảnh thơi. Theo dõi hơi thở như
thế dần dần ta kiểm soát được
tâm. Tu thiền phải có thầy hướng
dẫn mới có sự tiến bộ. Hãy
nên học và thực tập theo Kinh Quán
Niệm Hơi Thở với các thầy có
kinh nghiệm và sở đắc.
Sau đây xin tóm lược vài cách
thức cơ bản giúp người khi mới
bắt đầu tập ngồi thiền.
1/ Có nhiều người cùng ngồi thiền
với nhau, sự thực tập dễ dàng hơn
bội phần. Điều này rất dễ nhận
biết đối với những thiền sinh đã
trải qua những khóa quán niệm với
nhiều bạn đồng tu. Thiền lực của
một tập thể rất lớn và tác
xúc rất đặc biệt vào sự nỗ
lực định tâm của mỗi người.
Nếu cả gia đình hay một tăng thân
cùng ngồi thiền chung với nhau vào những
giờ giấc nhất định trong ngày thì
hiệu quả thiền tập sẽ đạt được
rất nhanh.
2/ Một nơi yên tĩnh, núi rừng và
thiên nhiên là trợ duyên rất lớn
cho người ngồi thiền. Ta khó ngồi
thiền được nếu gần đó, một
máy truyền hình hay phát thanh mở lớn
với các bản nhạc kích động.
Hãy sắp đặt và tôn trọng sự
yên tĩnh trong giờ thiền tọa.
3/ Giờ ngồi thiền sẽ được quyết
định chung giữa những người cùng
ngồi thiền. Định giờ nào thuận
tiện cho mọi người, và khi đã
quyết định một giờ giấc nào
đó, nên luôn luôn giữ đúng
giờ giấc một cách liên tục. Ngồi
thiền lâu hay mau tùy theo quyết định
của ta. Nếu ta muốn ngồi 15 phút một
lần thì hãy giữ đúng 15 phút
và luôn luôn bắt đầu, kết thúc
cùng một giờ nhất định. Mới
bắt đầu, nên ngồi khoảng 15 phút
một lần, rồi gia tăng 15 phút nữa
sau khoảng 5 tuần lễ hay hai tháng thực
tập. Nếu ngồi được 45 phút hay
1 giờ, hai lần trong mỗi ngày là tốt
nhất.
4/ Nên có tọa cụ làm cho thế ngồi
được thoải mái, dễ chịu. Sắm
một gối ngồi mềm mại, chiều cao vừa
tầm. Tọa cụ tùy thuộc vào thế
ngồi của mỗi người, làm thế
nào cho khi ngồi được thoải mái.
Những người đau bệnh nhức khớp
xương không ngồi được dưới
sàn, có thể ngồi trên một cái
ghế hoặc một cái đòn bằng gỗ
thích hợp.
5/ Thế ngồi tùy thuộc sự lựa chọn
và cố gắng của ta. Đức Phật
đã ngồi kiết già trong 49 ngày và
đã đắc đạo. Ta nên ngồi
kiết già, tức là ngồi như một
đóa hoa sen. Ngồi kiết già bàn chân
trái đặt lên đùi chân phải,
và bàn chân phải đặt lên đùi
chân trái. Lưng thẳng, mắt nhìn phía
trước hoặc nhắm lại, môi mỉm
nụ cười hàm tiếu. Thế ngồi này
là thế vững chãi nhất, vì sức
nặng thân thể được đặt vào
ba điểm, đó là bàn tọa, và
hai đầu gốì. Hình ảnh chiếc
đỉnh đứng trên ba chân, vững chãi,
không lay chuyển. Nếu không ngồi kiết
già được, thì hãy ngồi bán
già. Bàn chân trái đặt trên
chân phải, hay bàn chân phải đặt
trên chân trái. Trong cả hai thế kiết
già và bán già, hai tay buông thư,
những ngón tay chồng lên nhau, hai ngón
tay cái chạm nhẹ nhau. Không ngồi kiết
già hay bán già được, thì
có thể ngồi cách nào thoải mái
nhất cho ta. Nếu ngồi dưới sàn không
được ta có thể ngồi trên một
chiếc ghế, lưng giữ thẳng, không dựa
vào thành ghế. Lưng và bàn tọa
làm thành một góc 90 độ. Đầu
và hai tay giống như ngồi kiết già
hay bán già.
6/ Việc ăn
uống điều độ, tinh khiết và ngủ
nghỉ đủ lượng, chừng mực cũng
giúp ta rất nhiều trong việc ngồi thiền.
Không nên ăn quá no, không nên ăn
các thức ăn khó tiêu hóa như
thịt các loài gia súc. Tuyệt hẳn
rượu, thuốc lá, bài bạc; giảm
dần sắc dục, thù hận và đấu
tranh hơn thua thì việc ngồi thiền mới
có hiệu quả tốt, nhanh chóng.
7/ Nên phát
tâm quy y Tam Bảo và thọ trì năm
giới nếu là phật tử tại gia. Giới
luật cần phải được học hỏi
và thực tập nghiêm túc. Giới luật
không là những trói buộc mà là
chìa khóa để mở trói những
khúc mắc của mọi gốc rễ tham dục,
sân hận, cố chấp và kiến thức
sai lầm. Tu tập thiền quán luôn luôn
lấy giới làm đầu, lấy giới tưới
tẩm cho sự tươi mát của thân
tâm và chánh niệm. Chánh niệm vừa
là mở đầu, vừa là công năng
và vừa là thành quả của thiền
quán.
8/ Nếu không
phải là người đi tu ở trong các
thiền viện thì nên ghi danh tham dự các
khóa tu tập thiền quán để có
thể học hỏi phương pháp thiền
quán trực tiếp với các vị thiền
sư, thiền sinh có căn bản về kinh nghiệm
tu học. Thầy và bạn thiền có chiều
sâu của sự an lạc, vững chãi, thảnh
thơi là những tác phẩm lớn nhất,
hay nhất trao truyền cho ta về nguyên tắc,
kỹ thuật linh động và thực tế
của thiền quán.
9/ Tới các
tu viện, thiền viện và các trung tâm
thiền quán để được ở tu
học vài tuần, vài tháng hay ít
nhất là 10 ngày hằng năm là điều
rất cần thiết cho việc phát triển
công năng thiền quán của mình. Ở
các nơi có nhiều vị xuất gia, thực
hành hạnh viễn ly và giải thoát,
nơi ấy và khung cảnh ấy có năng
lượng thanh khiết, và có sức mạnh
tâm linh rất lớn gia trì cho sự thực
tập thiền quán của ta. Vì vậy mà
tuệ giác, lòng từ bi của ta tiến
bộ rất dễ dàng.
10/ Hãy tin
nơi khả năng của mình và nơi
pháp hành thiền một cách kiên định,
bền vững, không bị ngoại cảnh và
vọng cầu chi phối. Giới là thầy,
định là thầy, tức là khả năng
kiểm soát thân tâm, cảm giác, suy
tưởng, nhận thức của ta. Trạng thái
đi tới và thành tựu đầu tiên
của thiền quán là làm chủ được
ba nghiệp thân, miệng, ý trong giây phút
hiện tại. Thân, miệng, ý không buông
lung, không tạo tác các điều xấu
là kết quả thực tế, mầu nhiệm
của công năng thiền quán.
c. Kiểm soát hơi thở:
Kiểm soát
hơi thở bằng cách đếm hơi thở.
Đếm hơi thở là phương pháp
thực hành sơ đẳng nhưng căn bản
nhất. Thở vào đếm 1, thở ra đếm
1; thở vào đếm 2, thở ra đếm
2 cho đến 10 thì trở lại. Tâm của
ta sẽ chỉ tập trung vào việc đếm
hơi thở. Khi đếm hơi thở đã
thuần thục, ta chỉ cần theo dõi hơi
thở nơi bụng. Thiền Minh Sát dạy ghi
nhận các cử động phồng, xẹp
của bụng. Bước đầu tiên nên
cố gắng thấu hiểu chính xác bản
chất của những hiện tượng tâm
lý đang diễn biến bên trong thân,
như cảm giác nhẹ, khỏe, vui, mỉm cười.
Mới thực tập, ta có thể theo dõi
hơi thở ra, vào từng ba hơi thay vì
theo dõi số đếm mười hơi. Thở
vào và thở ra thầm đếm một;
thở vào và thở ra thầm đếm
hai; thở vào và thở ra thầm đếm
ba. Cứ thực tập ba hơi thở cho vững
chãi ta có thể theo dõi được
tâm trong giây phút hiện tại. Trụ
tâm trong giây phút hiện tại là
chánh niệm và là ngọn đèn
tuệ được thắp sáng. Có tuệ
là ta sẽ thấy được mặt thật
của đời sống và của lý duyên
sinh, duyên khởi. Nhờ đó mà ta không
bị ràng buộc, ta sẽ giải thoát được
mọi mê lầm, vướng mắc.
Trước khi bắt đầu thực tập hơi
thở, kiểm soát hơi thở, ta nên nhẩm
đọc bài kệ sau đây ba lần:
Ngồi vững tợ núi cao
Thở thanh nhẹ ra vào
Tâm duyên theo hơi thở
Nhẩm đếm từng ba hơi.
d. Những
bệnh khi ngồi thiền:
Những bệnh
thông thường của người mới tu
thiền là bệnh hôn trầm và bệnh
loạn tưởng. Bệnh hôn trầm là
khi ngồi thiền, tâm ta mơ mơ màng màng,
không tỉnh cũng không mê. Bệnh loạn
tưởng là khi ngồi thiền, những niệm
thiện, niệm ác lăng xăng đi qua tâm
ta không ngừng nghỉ. Đối với người
tu, những niệm bất thiện là không
tốt, nhưng cũng phải rũ bỏ những
niệm thiện. Đến một lúc nào
đó, ta sẽ hiểu một cách rõ
ràng là muốn giải thoát, ta phải
dứt bỏ những niệm bất thiện cũng
như những niệm thiện, tức là thấu
được thể chơn tánh bình đẳng,
xa lìa phân biệt.
e. Kiểm
soát vọng niệm bằng sự ghi nhận,
tỉnh giác:
Khi tâm mơ
màng, ý thức rằng ta đang mơ màng.
Thuốc chữa bệnh này là niệm: tỉnh
tỉnh. Tỉnh lại để chấm dứt trạng
thái hôn trầm. Khi đang loạn tưởng
thì ta ý thức rằng tâm ta đang loạn
tưởng. Thuốc chữa bệnh này là
lặng lặng. Tỉnh tỉnh cách nào, lặng
lặng cách nào, đó là tùy
vào sự chú tâm rõ ràng của
ta.
Một hôm Đức Phật dùng thiên
nhãn thông, Ngài thấy một đệ
tử lớn đang ngủ gục và ngáy
trong khi hành thiền. Nhân đó đức
Phật chỉ những cách thức chế ngự
bệnh hôn trầm:
* Mở mắt
ra
* Nhìn lên trời
* Đứng dậy đi kinh hành
* Thở sâu, dài và chậm
* Nín thở để ý thức tỉnh dậy
* Đi rửa mặt
* Tập vài động tác thư giãn.
* Suy niệm về một người đau khổ,
sự chết.
* Gởi tâm từ trợ niệm cho một người
sắp qua đời.
* Gởi năng lượng từ bi đến cho
một người hay sân hận và có
nhiều oán thù.
* Hãy tưởng tới một người mù
lòa và cụt cả hai chân, người
ấy khổ sở biết chừng nào.
* Đuối sức quá, buồn ngủ quá,
hãy nằm xuống ngủ một giấc cho thoải
mái.
* Khi tỉnh giác rồi, tiếp tục hành
thiền và kiểm soát hơi thở.
Về phương
pháp chữa bệnh loạn tưởng, ta hãy
ý thức mình đang nghĩ về một
điều nào đó và thầm niệm
điều đó. Ví dụ ta đang nghĩ
về một người bệnh tim, hãy thầm
niệm bệnh tim, bệnh tim. Khi vọng tâm này
chấm dứt, hãy trở về đếm lại
từng ba hơi thở. Vạn pháp có sanh
thì có diệt. Vọng tưởng cũng
không khác, nghĩa là vọng tưởng
đã có sanh, thì tất sẽ có
diệt. Ta chỉ cần ý thức điều
đó và tự nhiên cái niệm lăng
xăng sẽ tan biến. Dần dà, sau nhiều
công phu tu tập, thân và tâm của
ta sẽ dễ dàng tĩnh lặng và ta sẽ
bước qua phần quán chiếu sâu hơn
để phát triển trí tuệ và tâm
từ bi.
Muốn thiền định ta phải giữ giới.
Không giữ giới thì không thể nào
có định lực. Như ta đã thọ
ba quy y và đã phát nguyện giữ năm
giới thì phải quyết tâm giữ gìn
các giới ấy, không buông lung và
thối chuyển. Muốn có định thì
phải giữ giới. Muốn có huệ thì
phải có định tâm trước. Người
đi tu có nhiều giới luật và oai nghi,
song năm giới không sát sanh, không trộm
cắp, không tà dục, không đại
vọng ngữ về sở đắc và không
uống rượu là năm giới quan trọng
mà ta cần tiếp nhận thọ trì.
f. Lợi
ích ngồi thiền:
Ngồi thiền
là làm cho thân tâm trở nên an định,
sáng suốt, hết bệnh hoạn và rũ
bỏ mọi lo âu. Ngồi thiền là cách
hay nhất làm cho tinh thần giàu mạnh,
có thừa đức tính nhẫn nại,
biết lắng nghe, cởi mở và giúp ta
thành công trong mọi lãnh vực của
đời sống.
Nếu là người đam mê sắc dục,
ngồi thiền sẽ bớt đam mê sắc
dục. Nếu là người hay nóng giận,
ngồi thiền sẽ giúp ta trừ nóng giận.
Nếu là người thiếu tự tin, ngồi
thiền sẽ giúp ta tự tin. Nếu là
người đầy phiền não, buồn chán,
ngồi thiền giúp ta có an lạc và
tỉnh thức.
Xa hơn, người ngồi thiền lâu ngày
và đúng phương pháp hành trì
sẽ giác ngộ như Phật, không còn
bị đèo bòng khổ não, không
còn rong ruổi trong biển sống chết và
mê lầm nữa. Ngồi thiền rốt ráo
là thấy được thể tính chân
thật của ta, của người và của
vạn vật là bình đẳng, thanh tịnh
và hòa hợp. Ta có mặt trong vạn
pháp, trong cái thể bất sinh diệt và
trong muôn pháp đều có hóa thân
của ta.
Nhờ ngồi thiền mà ta chuyển hóa
được mọi gốc rễ khổ đau,
đạt được trạng thái an lạc
đích thực bây giờ và mai sau. Ngồi
thiền ta phát triển được tuệ
giác và năng lượng từ bi để
có thể hóa giải khổ đau, hận
thù của những người chung quanh.
Lợi ích của việc ngồi thiền đến
mức độ thuần thục, rốt ráo,
ta sẽ đạt được trạng thái
bất sanh giữa dòng đời sanh diệt.
Ngồi thiền pháp thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Khai tâm mở tuệ giác
Sống tự tại an nhiên.
Tâm tạo nên cảnh giới
Niết bàn không ngoài tâm
Cực Lạc ngay tự tánh
Thiền Tịnh một lối về.
Tâm Tịnh cõi nước tịnh
Tâm bình thế giới bình
Pháp lạc nơi hiện trú
Bây giờ và ở đây.
2.Pháp
Môn Thiền Lễ Phật
Lạy Phật
làm cho thân, miệng, ý trong sạch. Xa
hơn, lạy Phật đưa đến định
tâm và tuệ giác. Đó là khi
ta lạy Phật đạt tới chỗ năng lễ
sở lễ tánh không tịch, tức là
khi lạy Phật ta phải buông bỏ tự ngã
riêng biệt, tâm ý thể nhập vào
tự tánh của chư Phật và vạn
pháp một cách tuyệt đối. Lạy
Phật trong chánh niệm.
Tự tánh của vạn pháp, chúng sanh
và tự tánh của chư Phật vốn
vắng lặng, bình đẳng. Vì vậy
khi khởi ý lạy Phật, ta phải đem tâm
tha thiết, không chấp trước và không
đối đãi mà lạy. Lạy Phật
mà "ỷ" mình có lạy Phật,
ngồi thiền mà "ỷ" mình có
ngồi thiền là trước tướng. Phàm
cái gì có tướng và trước
tướng đều là hư dối, không
có khả năng làm hiển lộ trí
tuệ viên mãn và thể tánh chân
thật. Vẫn biết hình tướng, là
phương tiện, là sự cần thiết
cho sự bắt đầu tu theo Phật pháp.
Thông thường ta lạy Phật là để
tưởng niệm ân đức sâu dày
của Phật, nguyện sống theo hạnh lành
của Phật, nguyện từ bỏ những việc
làm xấu ác. Lạy Phật là nguyện
thực tập tâm từ bi và lòng vị
tha rộng lớn của Phật, nhằm chuyển
hóa khổ đau tự thân và nguyện
làm lợi ích cho nhiều người.
Bằng vào Pháp môn thiền lạy Phật
mà đại chúng thường trú tại
Tu Viện Kim Sơn có sức khỏe rất tốt,
niềm vui có mặt, thân tâm của mỗi
người trở nên tươi mát, vững
chãi và thảnh thơi.
Lạy Phật pháp thắng diệu
Ba nghiệp hằng lắng trong
Chân tâm ngời sáng dậy
Vượt thoát khổ luân hồi.
a. Cách
thức lạy Phật:
Sau giờ ngồi
thiền, đọc kinh ta nên phát nguyện
thực tập phần lạy Phật. Nếu ít
thì lạy chừng 51 lạy, nhiều thì
lạy từ 300 đến 500 lạy mỗi ngày.
Đại chúng tại Tu Viện Kim Sơn, mỗi
người đều phát tâm dõng mãnh
và tinh tấn lạy Phật sau mỗi thời
công phu. Càng lạy Phật ta càng thấy
thân tâm an lạc, tật bệnh tiêu trừ,
căn lành tăng trưởng.
Trong một đại chúng có nhiều người,
ta nên chia mỗi người phụ trách xướng
một danh hiệu đức Phật hoặc danh hiệu
một vị Bồ Tát. Mỗi danh hiệu, ta
có thể xướng từ 5 đến 10 lần.
Nếu thực tập lạy Phật một mình,
ta cũng có thể dùng phương pháp
nầy để ghi số lượng lạy Phật
cho dễ nhớ trong mỗi lần công phu.
Đại chúng tại Tu Viện Kim Sơn vẫn
ứng dụng pháp Hồng Danh Sám Hối,
lạy Thù Ân, lạy Phật theo văn kinh
Lương Hoàng Sám và lạy các
danh hiệu đức Phật trong các nghi Năm
Trăm Vị Phật, Ba Ngàn Vị Phật, Một
Vạn Vị Phật trong thời gian nhập thất,
tịnh tu. Song nghi thức lạy Phật thường
xuyên mỗi ngày tại Tu Viện là áp
dụng theo pháp Thập Hiệu Nghi Văn. Đó
là lễ bốn danh hiệu Đức Phật
và sáu danh hiệu các vị Bồ Tát
sau đây:
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
Đức Phật Dược Sư Lưu Ly
Đức Phật A Di Đà
Đức Phật Di Lặc
Đức Bồ Tát Đại Trí Văn
Thù Sư Lợi
Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ
Hiền
Đức Bồ Tát Đại Bi Quán Thế
Âm
Đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa
Tạng
Đức Bồ Tát Đại Hiếu Mục
Kiền Liên
Các vị Tổ Sư qua các thời đại.
Khi xướng
lễ, khởi đầu bằng câu: "Nhất
tâm kỉnh lễ Nam mô".
Mỗi đức Phật, mỗi vị Bồ Tát
đều đã đạt được tự
tánh thanh tịnh, bình đẳng. Tuy vậy,
bản ý độ sanh, mỗi Ngài có
một hạnh nguyện vào đời khác
nhau trong việc lợi lạc hữu tình, nên
khi lễ lạy và trì danh niệm Phật,
ta cũng tùy nguyện mà đảnh lễ
danh hiệu một hay nhiều đức Phật, Bồ
tát để có sự xúc tác và
cơ cảm sâu sắc.
Phương pháp lạy Phật tại Tu Viện
Kim Sơn, là mỗi tuần mười vị
phát nguyện làm thị giả hầu mười
đức Phật và Bồ Tát. Mỗi người
đối trước Tam Bảo và đại
chúng làm lễ thỉnh nguyện và bắt
thăm. Khi bắt thăm trúng danh hiệu đức
Phật hay vị Bồ tát nào thì vị
ấy nguyện làm thị giả hầu vị
đó. Phép hầu đức Phật và
các vị Bồ Tát, có bảy việc
mà vị thị giả tâm niệm, nguyện
thừa hành và thực tập:
1. Thấy mình
như được diễm phúc làm thị
giả của một vị Phật sống.
2. Tự cân nhắc mình đi, đứng,
nằm, ngồi, hành xử trong an vui, tỉnh thức
và chánh niệm.
3. Tuyệt đối thức ngủ đúng giờ,
nỗ lực tinh tấn tu tập, tham gia mọi sinh
hoạt với đại chúng nghiêm túc
và không trễ nải.
4. Tỏ ra mình là một thị giả xứng
đáng với tên đức Phật hay vị
Bồ Tát mà mình đang hầu.
5. Thỉnh tượng của đức Phật hay
vị Bồ Tát để tôn trí tại
phòng mình nhằm tưởng nhớ và
có ấn tượng đẹp trong khi đang
là thị giả của đức Phật hay
vị Bồ tát đó.
6. Hằng ngày, xướng danh hiệu đức
Phật hay vị Bồ Tát mà mình hầu
để đại chúng được lễ
lạy sau mỗi thời tọa thiền, công phu.
7. Thị giả Phật tập sống như hạnh
Phật và chắc chắn sẽ thành Phật.
Pháp môn
Thiền Lạy Phật, đã giúp cho toàn
đại chúng tại Tu Viện Kim Sơn tu tập
rất tiến bộ và có nhiều an lạc.
Hàng phật tử xuất gia hay tại gia chưa
có cơ hội thực tập pháp môn
lạy Phật, nên phát nguyện hành trì
đều đặn mỗi ngày để có
miền vui và hạnh phúc trong đời sống.
b. Công đức lạy Phật:
Đại Sư
Viên Giác thể nghiệm 12 công đức
thù thắng trong việc lạy Phật như
sau:
1. Lạy Phật,
đạt được âm thanh vi diệu, lời
nói ra đem lại niềm vui và lợi ích
cao quý cho nhiều người.
2. Lạy Phật, đạt được tâm
định tĩnh, hùng lực và phấn
chấn như tiếng hải triều, có khả
năng lắng nghe người khác và hóa
giải được mọi khó khăn, ưu
phiền trong cuộc sống.
3. Lạy Phật, giúp chánh niệm phân
minh, hưng khởi trí tuệ; có cái
nhìn sâu sắc và không hề phán
đoán sự việc nông nổi, sai lầm.
4. Lạy Phật, có tác dụng làm cho
khứu giác trở nên thanh trong, mũi thường
ngửi mùi hương chiên đàn; giải
trừ được xú uế, không khí
ô nhiễm và bất tịnh.
5. Lạy Phật, có đầy đủ phước
báu trong việc ăn uống. Bất cứ loại
thực phẩm và thức uống nào đưa
vào miệng cũng đều trở thành
thuốc hay, chữa lành muôn bệnh.
6. Lạy Phật, thân phát ra năng lượng
tươi mát, lửa tam muội bao trùm, nên
khi tiếp xúc với ngoại cảnh không
hề bị chi phối, nhiễm trước và
mê đắm.
7. Lạy Phật, sức khỏe phát triển,
giấc ngủ bình yên, trường thọ;
ở đâu, ngày đêm đều được
thiên nhơn hộ trì và yên ổn.
8. Lạy Phật, khởi niệm an lành, tâm
từ bi càng thêm rộng lớn, diệt trừ
được các tâm lý tham ái, phiền
giận, cố chấp, mê lầm.
9. Lạy Phật, tâm tư phấn chấn, niềm
tin vững chãi trên đường tu tập
cầu giải thoát và giác ngộ.
10. Lạy Phật, tài bảo và mọi nhu
cầu vật chất trở nên sung mãn, giàu
có và biết chăm làm phước,
cúng dường, bố thí.
11. Lạy Phật, phước tướng đoan
nghiêm, sắc diện đẹp đẽ, tươi
nhuận giới đức thanh tịnh.
12. Lạy Phật, giải trừ tận gốc rễ
phiền não, oán kết và nghiệp báo
oan gia nhiều đời.
Chánh
văn của 12 công đức lạy Phật
( Thập nhị công đức lễ kỉnh Như
Lai)
"Nhất
giả, âm thanh vi diệu
Nhị giả, thính hải triều âm
Tam giả, hằng khai tuệ nhãn
Tứ giả, khứu khải chiên đàn
Ngũ giả, thiệt thưởng kỳ vị
Lục giả, thân xúc bất nhiễm
Thất giả, thể kiện khương ninh
Bát giả, niệm niệm an bình
Cửu giả, hỷ tín cụ túc
Thập giả, tài bảo sung mãn
Thập nhất giả, khí mạo đoan nghiêm
Thập nhị giả, tận giải oán kết."
( Đại Sư Viên Giác trước nghiệm)
c. Lợi
ích lạy Phật
Lạy Phật
có tác dụng làm cho thân, tâm giao
hòa và trở nên nhẹ khỏe. Khi lạy
Phật, cốt yếu là phải nhất tâm
và tha thiết. Lạy Phật, nên chú
ý là đầu, mình, hai tay và hai
chân phải nép sát mặt đất để
bày tỏ lòng thành kính. Tâm neo
hơi thở vào, ra với động tác
lên xuống theo âm thanh xướng hiệu
Phật hay Bồ tát. Đề mục trong khi
lạy Phật là danh hiệu của một hay
nhiều vị Phật, Bồ tát. Đối với
người mới vào cửa đạo, việc
tập tu và ngồi thiền chưa định
tâm, thì cách động thân lạy
Phật là pháp đối trị vọng niệm,
tán tâm rất có tác dụng. Người
có đức tin vững và sâu sắc
nơi Tam Bảo mà phát nguyện và nhất
tâm lạy Phật tinh tấn mỗi ngày, sẽ
chứng nghiệm được nhiều điều
linh hiển, kỳ diệu.
Đại chúng
tại Tu Viện Kim Sơn sử dụng Pháp môn
thiền lạy Phật như là nguyên tắc
thực tập căn bản và thiết yếu
trong đời sống hằng ngày của người
xuất gia. Sau mỗi thời ngồi thiền, niệm
kinh ta có thể để ra trên 30 phút
lạy Phật. Lạy Phật cũng như tham thiền,
lúc lạy Phật ta tiếp xúc được
với niềm vui sâu sắc, vững chãi và
hợp nhất thân tâm trong giây phút
hiện tại. Ta có thể chứng nghiệm
sự an lạc dễ dàng qua Pháp môn thiền
lạy Phật. Vừa thực tập là ta có
sự an lạc, thảnh thơi ngay lập tức,
không cần chờ đợi thời gian.
Trên phương
diện thực tế, sau khi lạy Phật chừng
30 lạy, ta thấy hơi ấm khởi phát toàn
thân, khí huyết thông lưu điều
hòa, hơi thở nhẹ nhàng, giọng xướng
Phật hiệu thanh tao, miệng lưỡi tươi
mát và ta có cảm giác dễ chịu
vô cùng. Về mặt tâm linh, công năng
mầu nhiệm của việc lạy Phật thật
bao trùm rộng lớn. Những bệnh khó
chữa và khó trừ như phiền giận,
nghiệp chướng khảo đảo, cho chí
những bệnh nan y thầy thuốc bó tay, bằng
vào pháp môn lạy Phật để hồi
hướng, sám hối lỗi lầm, chữa
trị nghiệp chướng rất có hiệu
lực. Đường tu của người xuất
gia và phật tử tại gia thường có
nhiều chướng duyên, pháp môn lạy
Phật trợ lực rất nhiều trong việc
quân bình thân tâm, thừa hành phật
sự, đem lại niềm vui rất lớn cho bản
thân, gia đình và đoàn thể.
Tựu trung, mục
đích của việc ngồi thiền là
để thân tâm an ổn, phát huy tuệ
giác, diệt trừ vọng niệm thì pháp
môn lạy Phật là một trợ duyên
rất đắc lực cho việc ngồi thiền,
định tâm. Người mới tập tham thiền,
giữ tâm cho vững chãi, an định theo
đề mục chưa hoàn bị, thì phần
lạy Phật bổ sung cho việc an tâm và
định tâm rất tốt, rất mầu nhiệm.
Trở
về đầu trang
3. Pháp
môn Thiền hành
Một trong những phương pháp
để nuôi lớn chánh niệm là thực
tập thiền hành. Thiền hành là thực
tập chánh niệm trong khi đi bộ. Tại
Hoa Kỳ, Canada và các quốc gia Âu Mỹ,
mỗi ngày có hàng chục triệu người
thực tập thiền quán theo phương pháp
đi bộ.
Đi thong thả trong yên lặng, ta có thể
đi một mình hay đi chung với nhiều
người cùng một lúc. Ý nghĩa
sự yên lặng ở đây là không
phải chỉ yên lặng nơi lời nói,
mà phải yên lặng luôn trong tâm niệm.
Tức là đi mà không suy nghĩ gì
cả, chỉ theo dõi hơi thở ra, vào
và an trú nơi thân tâm trong giây
phút hiện tại. Đi mà không mong cầu
chỗ tới, chỗ tới là ngay nơi thân
và tâm, ngay trong giây phút hiện tại.
Nhiều người trong chúng ta có nhiều
lo âu, sợ hãi, phiền muộn và khổ
đau là vì tâm tư thường rong
ruổi về những chuyện quá khứ hoặc
những chuyện tương lai. Ta mất hạnh
phúc, mất người thân, mất cả
ý nghĩa đẹp của cuộc sống, vì
ta không biết nhìn, không biết tiếp
xúc với cái đẹp và với những
gì ta đang có trong phút giây hiện
tại. Thiền hành sẽ giúp ta thiết
lập sự trầm tĩnh, an ổn và điều
hòa nhịp thở của trái tim. Dùng
ý thức tiếp xúc với hơi thở
để nâng đỡ sự làm việc
cần mẫn của trái tim, buồng phổi,
lá lách, gan, mật, thận và toàn
các bộ phận trong cơ thể của ta là
điều rất khoa học và cần thiết.
Sở dĩ ngày nay có nhiều người
trên thế giới tin tưởng và thực
tập theo phương pháp thiền hành của
đạo Phật, vì phương pháp thiền
hành dễ thực tập đối với mọi
trình độ và tuổi tác. Dễ thực
tập mà kết quả tươi mát, an
lạc cho thân và tâm thì rất lớn,
nên phương pháp thiền hành ngày
nay đã trở thành một pháp môn
phổ thông đối với tất cả những
người phật tử và không phật
tử trên khắp mọi nơi ở các xã
hội đông phương và tây phương.
Trước khi đi thiền hành ta có thể
bắt đầu nhẩm đọc bài thi kệ:
Từng bước
chân đi, khơi làn gió nhẹ
Từng bước chân đi, khơi dậy niềm
vui
Từng bước chân đi, bước theo nhịp
thở
Từng bước chân đi, ta về với ta.
Nên đặt ý thức vào
mỗi bước chân để tâm ta có
thể dễ dàng an trú trong phút giây
hiện tại. Chân trái khởi bước
trước, chân phải theo sau và thầm
niệm: trái, phải, trái, phải. Ta cũng
có thể kiểm soát bước chân
đi bằng hơi thở ra vào: trái, phải,
thở vào; trái, phải, thở ra. Cứ
như vậy ta kiểm soát mỗi bước
chân và mỗi từng ba hơi thở đều
đặn trên đường thiền hành.
Khi thiền hành nên đi chậm rãi, thong
thả và giữ yên lặng nếu ta cùng
đi với nhiều người. Tuy vậy, khi đi
trên đường dài và đối với
tuổi trẻ có nhiều năng lượng
hoạt động, ta cũng có thể đi nhanh
hơn tốc độ bình thường, song vẫn
nhớ là luôn luôn kiểm soát hơi
thở ra, vào theo mỗi bước chân đi.
Khi đi ta cảm thấy thân nhẹ, khỏe,
thảnh thơi, khơi dậy niềm vui và sự
tươi mát trong tâm hồn là ta đã
tiếp xúc được ít nhiều với
công phu thiền hành. Đi thiền hành
là không phải đi để tới mà
đi là để trở về với hơi
thở, với nụ cười, với sự an lạc
của ta trong giây phút mà ta đang đi,
giây phút hiện tại. Hiện tại là
giây phút ta đang có mặt đích
thực với sự sống. Nếu tập quán
niệm, tỉnh giác trong phút giây hiện
tại của việc thiền hành được
thành công rồi, thì ta cũng có thể
quán niệm, tỉnh giác trong phút giây
hiện tại của tất cả mọi đối
tượng và sinh hoạt khác trong đời
sống của ta.
Tu Viện Kim Sơn có nhiều con đường
mòn quanh co trên ba mươi mẫu đất.
Cây cảnh ở đây xanh tươi, yên
tịnh và tuyệt đẹp nên rất tiện
dụng cho việc thực tập thiền hành.
Các thân hữu, thiền sinh và khách
thập phương đến Tu Viện, hầu như
mọi người đều thích tham dự các
buổi thực tập thiền hành. Trên các
con đường thiền hành, thỉnh thoảng
ta có thể dừng chân ngồi nghỉ ngơi
để tập những bài thiền ca bên
cạnh những tảng đá, bên bờ suối
róc rách hay bên bờ hồ an tịnh.
Nhờ những con đường thiền hành
và khung trời thiên nhiên, thanh tịnh tại
Tu Viện này mà thầy viện trưởng
và đại chúng đã giúp rất
nhiều người vượt qua những khổ
đau, tai biến; hàn gắn được những
đổ vỡ trong cuộc sống lứa đôi,
đem lại nhiều hạnh phúc vui tươi
cho gia đình và đoàn thể.
Ta có thể bắt đầu thực tập phương
pháp thiền hành ngay trong đời sống
của mình vào những ngày nghỉ hoặc
những buổi sáng cuối tuần. Ta có
thể đi một mình hay cùng với người
thân. Ta dạo bước thong thả trong những
công viên vắng người, bên bờ
suối, ven biển hay trên những vùng núi
đồi có cây cảnh tươi mát,
khí hậu trong lành.
Trong truyền sử Phật Giáo ghi lại là
khi thái tử Tất Đạt Đa vừa sinh
ra là mỉm cười và bước đi
được bảy bước. Bước chân
của thái tử đi đến đâu là
có hoa sen nở đến đó. Đó
chính là ý nghĩa của thiền hành.
Đi mà không lo lắng, không như bị
rượt đuổi bởi những toan tính,
vọng cầu. Đi với tâm niệm an lành.
Đi tới đâu là mang vẻ đẹp,
niềm vui và tâm thương yêu đến
đó. Đó là bước chân thiền
hành của các đức Phật trong quá
khứ, trong hiện tại và trong tương
lai. Khi về Tu Viện Kim Sơn, quý vị nhớ
tham gia những buổi học phật pháp, thực
tập thiền hành để có nhiều
tỉnh thức, chánh niệm và hạnh phúc.
Sáng nay thức
dậy
Từng bước chân đi
Bước chân tĩnh lặng
Hương thơm tràn đầy.
Người đi muôn
lối
Ta về nơi đây
Phút giây hiện tại
Tâm tư rạng ngời
Từng bước
chân đi
Khơi làn gió nhẹ
Từng bước chân đi
Khơi dậy niềm vui
Từng bước
chân đi
Bước theo nhịp thở
Từng bước chân đi
Ta về với ta.
Sáng nay thức
dậy
Ngày mới đơm hoa
Bước chân tĩnh lặng
Quê hương hòa bình.
Đời như mây
nước
Trôi về muôn phương
Tiếc chi cuộc lữ
Đong đưa muộn phiền.
Từng bước
chân đi
Bên vườn nắng hạ
Từng bước chân đi
Gieo hạt mùa lên
Từng bước
chân đi
Thiết tha lời nguyền,
Từng bước chân đi
Ta về quê xưa
Sáng nay thức
dậy
Nhìn lá thu rơi
Hoát nhiên tỉnh mộng
Chơn như ngàn đời,
Dù cho mưa nắng
Trên đường em đi
Bước theo nhịp thở
Yêu thương tìm về.
Từng bước
chân đi
Hoa cười đất mẹ
Từng bước chân đi
Xây dựng ngày mai
Từng bước
chân đi
Phút giây mầu nhiệm
Từng bước chân đi
Ta về thênh thang.
Trở về đầu trang
4.Ban
Giáo Thọ Tu Viện
Các thiền
sư, các bậc thầy lớn và các
vị Giáo Thọ dạy kinh điển, hướng
dẫn tu học cho đại chúng Tu Viện Kim
Sơn hiện nay ngoài thầy viện trưởng
còn có nhiều vị khác. Mặc dù
không trực tiếp cư trú tại Tu Viện,
nhưng các vị giáo thọ thường
đến hướng dẫn thiền quán, dạy
các môn giáo lý căn bản cho đại
chúng thường trú.
Thiền sư
Thích Nhất Hạnh, vị giáo thọ trưởng
tại Tu Viện Kim Sơn. Từ ngày Tu Viện
được thành lập, thiền sư Thích
Nhất Hạnh đã không ngừng đến
Tu Viện Kim Sơn để hướng dẫn các
khóa tu học thiền quán cho chư tăng,
ni và mọi giới phật tử Việt Mỹ.
Mỗi khóa tu học được thiền sư
Nhất Hạnh chủ trì, có rất đông
người đến tham dự. Mỗi khóa tu
học từ ba đến mười ngày tại
Tu Viện, có cả ngàn người đến
tham dự và ở lại cách đêm.
Núi rừng Tu Viện trong các dịp này
đã biến thành những khu lều trại
cho các thiền sinh cư trú. Những lúc
số lượng thiền sinh ghi danh tu học quá
đông, các căn nhà thôn dân kế
cận được tạm thuê để đủ
chỗ cư trú cho thiền sinh về tu học.
Điều này nói lên được giá
trị, cương vị và ảnh hưởng
rất lớn của vị giáo thọ đối
với chư tăng, ni và quần chúng. Điều
này cũng cho ta thấy lòng khát khao được
tu học phật pháp của tuổi trẻ, mọi
giới thiện hữu tri thức, tăng, ni và
phật tử rất cao, rất chân thành tại
Hoa Kỳ và hải ngoại.
Các vị
Giáo Thọ khác cũng đã được
thỉnh dạy thường xuyên tại Tu Viện
Kim Sơn. Các ngài đã hết lòng
thương mến hướng dẫn và dìu
dắt đại chúng Tu Viện Kim Sơn tu tập
suốt trong nhiều năm qua từ khi Tu Viện mới
thành lập cho đến nay như các bậc
tôn đức: Thích Mãn Giác, Thích
Thắng Hoan, Thích Thiện Thanh, Thích Thiện
Trì, Thích Minh Đạt, Thích Trí
Lãng, Thích Tín Nghĩa, Thích Nguyên
Hạnh, Thích Quảng Bình, Thích Minh Đức,
Thích Trí Hoằng, Thích Giác Đẳng,
Thích Quảng Chơn, Thích Hạnh Tuấn,
Thích Chơn Đức Niệm, Thích Giác
Như, Thích Từ Lực, Thích Phụng Sơn,
Thích Pháp Chơn, Thích Thiện Duyên,
Thích Nữ Quảng Nhơn, Thích Nữ Thanh
Lương và Thích Nữ Diệu Thiện..
Ân đức
của các vị Giáo Thọ vô cùng
lớn lao đối với đại chúng Tu
Viện Kim Sơn. Đại chúng Tu Viện Kim
Sơn thật diễm phúc, thật may mắn,
thật đầy đ |